Cấu hình iSCSI Target & Initiator trên Centos 7(Phần 1)

Đầu tiên, trước khi vào cấu hình chúng ta sẽ tìm hiểu sơ qua các khái niệm, cách thức hoạt động iSCSI để chúng ta dễ dàng hiểu sâu về công nghệ này.

1. iSCSI là gì?

-iSCSI là internet Small Computer System Interface: dựa trên giao thức mạng internet (IP) để kết nối các cơ sở dữ liệu. Nói một cách đơn giản nhất, iSCSI sẽ giúp tạo 1 ổ cứng Local trong máy tính của bạn với mọi chức năng y như 1 ổ cứng gắn trong máy tính vậy. Chỉ khác ở chỗ dung lượng thực tế nằm trên NAS và do NAS(Network Attached Storage) quản lý.

iSCSI có rất nhiều ưu điểm nổi bật như:
_ Chi phí rẻ hơn nhiều so với Fiber Channel SAN
_ Tạo và quản lý được nhiều ổ cứng cho nhiều máy tính nội-ngoại mạng(VPN).
_ Gián tiếp mở rộng dung lượng lưu trữ cho các máy tính nội-ngoại mạng(VPN).
_ Cài VMware trên ổ cứng iSCSI hoặc cài phần mềm từ xa.
_ Hiển thị y hệt ổ cứng trong máy, thân thiện với người dùng phổ thông.
_ Bảo mật cao bằng mật khẩu.
_ Kết nối rất nhanh, không cần qua nhiều bước.
_ Thích hợp cho doanh nghiệp quản lý dữ liệu của máy nhân viên.

2. Các thành phần của iSCSI

Gồm 2 thành phần chính:

+iSCSI Target

+iSCSI Initator

iSCSI Initiator: là thiết bị client trong kiến trúc hệ thống lưu trữ qua mạng. iSCSI Initiator sẽ kết nối đến máy chủ iSCSI Target và truyền tải các lệnh SCSI thông qua đường truyền mạng TCP/IP . iSCSI Initiator có thể được khởi chạy từ chương trình phần mềm trên OS hoặc phần cứng thiết bị hỗ trợ iSCSI.

iSCSI_Target: Server iSCSI Target thường sẽ là một máy chủ lưu trữ (storage) có thể là hệ thống NAS chẳng hạn. Từ máy chủ iSCSI Target sẽ tiếp nhận các request gửi từ iSCSI Initiator gửi đến và gửi trả dữ liệu trở về. Trên được dùng để chia sẻ ổ đĩa lưu trữ iSCSI với phía iSCSI Client.

Kết luận: Máy chủ nào chia sẻ vùng lưu trữ (storage) thì được gọi là iSCSI Target . Máy tính nào yêu cầu sử dụng vùng lưu trữ sẽ được gọi là iSCSI Initiator.

3. Một số khái niệm liên quan đến bài LAB

– Direct Attached Storage (DAS) là gì?

Direct attached storage (DAS) là cách lưu trữ mà chúng ta đã quen biết từ lâu, đó là các ổ cứng SCSI gắn bên trong các máy chủ. Các ứng dụng có thể truy cập vào ổ cứng gắn trong ở mức độ block-level hay file-level. Thích hợp cho mọi nhu cầu nhỏ đến cao cấp nhất và khả năng chạy cũng cực nhanh .

Một Server với những HDD bên trong, 1 Client với các HDD bên trong và truy xuất trực tiếp đến HDD của nó thì đó chính là DAS.

– Network Attached Storage (NAS) là gì?

Network attached storage (NAS) là dạng lưu trữ không phải gắn liền với server như DAS, mà kết nối từ xa đến server thông qua mạng LAN. Thay vì truy cập đến thiết bị lưu trữ gắn trong (như DAS), ứng dụng truy cập đến thiết bị lưu trữ gắn trên 1 thiết bị lưu trữ khác thông qua network. Cụ thể hơn, các thiết bị NAS thường thấy chính là các server chạy hdh Windows Storage Server, được thiết kế để tối ưu cho lưu trữ, và có thể dễ dàng mở rộng dung lượng bằng cách cắm thêm thiết bị lưu trữ ngoài, hoặc combine với nhau thành group. Lúc này, ứng dụng cài trên server khác, sẽ truy cập đến thiết bị lưu trữ này (cũng là 1 server chạy Win, hoặc một HĐH nào khác) ở mức file-level, dùng CIFS (windows) hoặc NFS (unix). Các ứng dụng mà cần truy cập thiết bi lưu trữ ở mức block-level sẽ không thể truy cập vào NAS device (vd: exchange server); trong khi đó Lotus Note hoạt động ở mức file-level nên dùng NAS được.
Bạn cũng có thể hiểu rằng NAS chính là DAS được đặt trên mạng IP mà các Server/Client truy xuất từ xa đến nó.

– SAN là gì?

Storage area network (SAN) hiện có 2 loại chính dùng 2 kiểu protocol khác nhau, là Fiber Channel và iSCSI.
Nếu như NAS không thể thay thế DAS vì chỉ ở mức file-level access, thì SAN thay thế được DAS vì nó hỗ trợ block-level access, và là phương án mở rộng cho DAS. Nếu như SCSI là cách truy cập vào DAS, thì iSCSI mở rộng khả năng của SCSI ra các hệ thống lưu trữ nằm ở xa server (internet SCSI), cũng vẫn là SCSI nhưng lần này là hoạt động ở môi trường IP của LAN hoặc Internet. Như vậy, ứng dụng với sự hỗ trợ của iSCSI có thể truy cập và sử dụng 1 ổ cứng SCSI ở xa như thể ổ cứng đó đang gắn trực tiếp bên trong.
Chi phí triển khai hệ thống SAN là khá đắt, nó đòi hỏi phải dùng các thiết bị Fiber Chennel Networking, Fiber Channel Swich,…

– iSCSI SAN là gì?

iSCSI là Internet SCSI ( Small Computer System Interface ) là một chuẩn công nghiệp phát triển để cho phép truyền tải các lệnh SCSI qua mạng IP hiện có bằng cách sử dụng giao thức TCP/IP.

Các thiết bị iSCSI SAN (hay IP SAN) là các Server (chạy HĐH nào đó, Win Storage chẳng hạn) và có cài tính năng hỗ trợ iSCSI ở phía server (gọi là iSCSI target). Các máy truy cập đến thiết bị IP SAN bằng iSCSI sẽ phải hỗ trợ tính năng iSCSI client (gọi là iSCSI source). iSCSI source (client) được cài sẵn trong Win Vista/7 và 2008. Đối với iSCSI target, có nhiều Soft, ví dụ StarWind trên nền Win, và OpenFiler trên nền Linux.

iSCSI dễ dùng, linh hoạt, dễ mở rộng, vì hoạt động dựa trên nền IP và Ethernet / Internet, không đòi hỏi phần cứng đặc biệt. Đặc biệt hiệu quả khi mạng Ethernet 10G phổ biến.

Nếu như giao thức iSCSI hoạt động trên nền IP, và từ lớp Internet trở lên, thì giao thức Fiber Channel (1 loại SAN khác) hoạt động ở mức Physical layer, nên phụ thuộc nhiều vào phần cứng, cần đến phần cứng riêng biệt, bao gồm các Switch, NIC (HBA) và thiết bị lưu trữ/cáp hỗ trợ Fiber channel. Vì không hoạt động trên nền IP nên không linh động và khó mở rộng, so với IP SAN. Dù khó dùng và đắt tiền, Fiber Channel SAN đã và đang là giải pháp SAN chính của nhiều hệ thống lớn.

– LVM là gì?

LVN (Logical Volume Manager): là phương pháp cho phép ấn định không gian đĩa cứng thành những logical Volume khiến cho việc thay đổi kích thước trở nên dễ dàng hơn (so với partition). Với kỹ thuật Logical Volume Manager (LVM) bạn có thể thay đổi kích thước mà không cần phải sửa lại table của OS. Điều này thật hữu ich với những trường hợp bạn đã sử dụng hết phần bộ nhớ còn trống của partition và muốn mở rộng dung lượng của nó.

Phần tiếp theo mình sẽ hướng dẫn cài đặt cấu hình nhé!!!!

Bình luận